Rèn Luyện, Nâng Cao Tác Phong Công Nghiệp Cho Người Lao Động Ở Hải Phòng

Các doanh nghiệp Nhật Bản tại nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp ở Hải Phòng đang áp dụng mô hình 5S (sàng lọc, sắp xếp, sạch sẽ, săn sóc, sẵn sàng ) của Nhật Bản. Mô hình 5S giúp doanh nghiệp tăng hiệu quả làm việc, cải tiến dịch vụ, tăng lợi nhuận, giảm chi phí, tạo môi trường làm việc trong lành, đảm bảo an toàn lao động. Tuy vậy, ý thức người lao động còn hạn chế, nhiều doanh nghiệp chưa nắm bắt được tập tính, văn hóa người Việt Nam nên việc áp dụng mô hình 5S còn gặp trở ngại.

Ông Phạm Hữu Thư, Chủ tịch liên đoàn lao động TP-Hải Phòng cho biết: “Hiện tại chúng tôi chưa có số liệu thống kê doanh nghiệp triển khai mô hình 5S, nhưng có thể thấy nhiều doanh nghiệp áp dụng mô hình vào quá trình sản xuất, kinh doanh công ty có chuyển biến tích cực như: tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động, môi trường làm việc sạch sẽ, tai nạn lao động giảm; vật liệu, trang thiết bị được sắp đặt gọn gàng, ngăn nắp theo phương châm ‘dễ thấy, dễ lấy, dễ trả’ nên không mất thời gian tìm kiếm. Ngoài ra, người lao động có thái độ làm việc nghiêm túc, cẩn thận, khoa học, tích cực phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật khi áp dụng mô hình 5S. ”

Theo nhận định của ngài Ken ichiro Kuninobu, Phó chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam: “Mô hình 5S áp dụng ở Hải Phòng chưa đạt được hiệu quả cao do doanh nghiệp chưa cam kết thực hiện mô hình, khâu kiểm tra, giám sát chưa chặt chẽ, thiếu chuyên gia 5S hỗ trợ, người lao động chưa được huấn luyện bài bản,…Nhưng hạn chế rõ nhất là người lao động thiếu ý thức, tác phong công nghiệp, tuân thủ an toàn lao động,… ”

Hiệp hội Hợp tác kỹ thuật quốc tế Kitakyushu (Nhật Bản), Trường cao đẳng nghề công nghiệp Hải Phòng đã liên kết triển khai mô hình 5S cho các doanh nghiệp thành phố Hải Phòng để nâng cao năng lực quản lý, điều hành. Sau khi triển khai mô hình này từ năm 2012 đến nay, đã có 400 giảng viên, sinh viên trường được đào tạo về quản lý sản xuất tại Hải Phòng và Nhật Bản. 46 doanh nghiệp thực hiện mô hình trên có nhiều chuyển biến đáng khích lệ.

Chủ tịch công đoàn công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm, Ông Hoàng Văn Miền chia sẻ: Công ty chúng tôi triển khai 5S năm 2003. Theo đó, cán bộ công nhân viên thực hiện đúng các yêu cầu quản lý, sản xuất theo mô hình. Thiết kế, bố trí nhà xưởng, vật dụng, máy móc, nơi ăn ở công nhân,… rất khoa học, hợp lý. Nhân viên được huấn luyện kỹ qui trình vệ sinh 5S, qui trình an toàn lao động với trang bị bảo hộ lao động hiện đại, chuyên nghiệp. Trong nhiều năm qua, công ty cổ phần đóng tàu Sông Cấm đã tiết kiệm chi phí sản xuất, đảm bảo vệ sinh môi trường-an toàn lao động, tăng hiệu quả sản xuất, tiết kiệm thời gian,…Giúp cán bộ, công nhân viên yên tâm làm việc.

Phát huy vai trò tổ chức công đoàn ở mỗi công ty

Tổ chức công đoàn ở từng doanh nghiệp tích cực tuyên truyền, vận động, nâng cao ý thức người lao động thực hiện mô hình 5S, góp phần tạo môi trường làm việc trong nhà máy, khu công nghiệp luôn ‘Xanh, sạch, đẹp’ và nâng cao năng suất lao động cho từng đơn vị. Một số doanh nghiệp triển khai 5S hiệu quả như công đoàn các khu kinh tế Hải Phòng, công ty cổ phần VLC, liên đoàn lao động quận Hải An, liên đoàn lao động huyện Tiên Lãng,…

Liên đoàn lao động TP-Hải Phòng chỉ đạo công đoàn cơ sở ở các công ty, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, quận, huyện tăng cường thực hiện mô hình 5S. Thêm đó, liên đoàn lao động Hải Phòng còn tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ mô hình 5S cho cán bộ công đoàn để về áp dụng tại đơn vị mình giúp cho cán bộ quản lý, nhân viên, công nhân nâng cao ý thức lao động, kỹ năng an toàn lao động, vệ sinh môi trường trong nhà máy.

Video: Mô Hình 5S

Bắc Ninh Tập Trung Giải Quyết Việc Làm

Những năm qua lãnh đạo, các ban, ngành tỉnh Bắc Ninh luôn coi vấn đề giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người lao động là vấn đề quan trọng giúp ổn định và phát triển tình hình kinh tế xã hội tỉnh nhà. Ủy ban nhân dân tỉnh, sở lao động thương binh và xã hội, trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh, ban quản lý các khu công nghiệp Bắc Ninh đã phối hợp tổ chức nhiều phiên giao dịch việc làm để hỗ trợ người lao động tìm việc làm. Đồng thời tỉnh đã qui hoạch phát triển nguồn nhân lực Bắc Ninh trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2015, định hướng tới năm 2020 với nhiều chương trình, đề án, chính sách giải quyết việc làm.

Hiện tại Bắc Ninh có 15 khu công nghiệp-đô thị và 25 cụm công nghiệp làng nghề thủ công. Các khu công nghiệp-đô thị đã có hơn 1.000 doanh nghiệp FDI tham gia đầu tư sản xuất, góp phần không nhỏ giải quyết công ăn việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, hình thành tác phong công nghiệp cho người lao động, nâng cao chất lượng chuyên môn nguồn nhân lực. Hàng năm giải quyết việc làm khoảng 26.000 đến 27.000 lao động, cụ thể xuất khẩu lao động gần 1.500 người, giải quyết việc làm trong nước  25.000 người. Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị tỉnh Bắc Ninh luôn ở mức thấp, khoảng 3,2 % (năm 2016).

Bằng nhiều biện pháp tích cực, hiệu quả như tỉnh ủy Bắc Ninh phê duyệt đề án qui hoạch trung tâm dịch vụ việc làm đến năm 2020 và sàn giao dịch việc làm đã góp phần hỗ trợ người lao động tìm việc và cung ứng lao động nhanh chóng cho doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng trên địa bàn.

Dù có nhiều cố gắng nhưng mặc bằng chung về điều kiện sinh hoạt, điều kiện làm việc, thu nhập, nhu cầu giải trí,… của người lao động nói chung, công nhân nói riêng vẫn có sự chênh lệnh giữa các khu công nghiệp, giữa công ty có vốn đầu tư nước ngoài và công ty trong nước, giữa quản lý so với công nhân…Việc làm lĩnh vực xây dựng, dịch vụ và nông nghiệp còn ít, thiếu ổn định. Sự gắn kết giữa người tìm việc, doanh nghiệp tuyển dụng, cơ sở giáo dục vẫn chưa có sự thống nhất. Đặc biệt tình trạng nhiều sinh viên ở trường cao đẳng, đại học tốt nghiệp ra trường nhưng không xin được việc vì những bất hợp lý trong khâu đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu thị trường lao động. Nhiều bạn sinh viên ra trường thiếu kỹ năng mềm, ngoại ngữ yếu, ý thức tổ chức kỷ luật kém, tác phong làm việc môi trường công nghiệp chưa có. Trong đó doanh nghiệp FDI có nhu cầu tuyển dụng nhân lực có hàm lượng chất xám rất cao nhưng chỉ tuyển được 15% lao động trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học, 85% tuyển là lao động phổ thông mà chỉ yếu là nữ.

Ngành lao động thương binh và xã hội năm 2017 đã đặt mục tiêu tuyển mới và đào tạo nghề cho 34.000 người, trong đó xuất khẩu lao động 1.800 người, sơ cấp nghề thời gian ít hơn ba tháng 30.600 người, trung cấp 2.500 người, cao đẳng nghề 900 người; dạy nghề 150 người khuyết tật và 4.000 lao động nông thôn.

Tăng cường tìm kiếm, dự báo thị trường xuất khẩu lao động truyền thống và thị trường lao động mới để từ đó phối hợp giữa chính quyền địa phương với doanh nghiệp xuất khẩu lao động tuyên truyền, tư vấn, tuyển chọn, đào tạo nghề, dạy ngoại ngữ, hướng dẫn văn hóa luật pháp nước sở tại, hỗ trợ pháp lý để đưa người lao động yên tâm sang nước ngoài làm việc lâu dài.

Xây dựng nhà ở cho người lao động có thu nhập thấp, xây dựng công trình vui chơi-văn hóa cho công nhân, chăm lo sức khỏe, xây dựng nhà giữ trẻ ở khu công nghiệp, hỗ trợ lao động ngoại tỉnh tiếp cận dịch vụ công ích của địa phương để họ yên tâm làm việc, sinh sống và đóng góp vào sự phát triển ổn định của tỉnh Bắc Ninh.

Hải Dương: Cơ Hội Tìm Kiếm Việc Làm Cho Lao Động Gần Các Khu Công Nghiệp

Tính đến Quý I năm 2017, tỉnh Hải Dương đã thành lập 10 khu công nghiệp và đưa vào hoạt động ổn định, thu hút nhiều dự án đầu tư của 29 quốc gia và vùng lãnh thổ. Hằng năm, các khu công nghiệp này tạo công ăn việc làm cho hằng ngàn lao động trên địa bàn tỉnh.

Cuối tháng 11/2016,  Sở LĐ-TB&XH tỉnh Hải Dương với sự hỗ trợ của các đơn vị liên quan đã tổ chức phiên giao dịch việc làm lưu động tại khu công nghiệp Lai Vu.

Nhằm mục tiêu giải quyết những vấn đề của khu công nghiệp Lai Vu, Sở LĐ-TB&XH Hải Dương đã chỉ đạo Trung tâm Dịch vụ việc làm (DVVL), phòng Việc làm An toàn lao động trực thuộc Sở làm đầu mối tổ chức.

Phiên giao dịch được tổ chức dành cho lao động tại xã Lai Vu, huyện Kim Thành nhằm tạo sự hỗ trợ cho người lao động và doanh nghiệp tại địa bàn xã và khu vực lân cận. Phiên giao dịch cũng giúp người lao động hiểu rõ hơn về yêu cầu của nhà tuyển dụng, đồng thời nắm bắt phương pháp tiếp cận với hệ thống thông tin thị trường lao động.

Tại lễ khai mạc, ông Vũ Doãn Quang Giám đốc sở LĐ-TB&XH Hải Dương đã khẳng định để đạt mục tiêu phát triển bền vững thì giải quyết việc làm là chính sách cơ bản, cần được ưu tiên trong toàn bộ các chính sách kinh tế và xã hội của tỉnh. Các cấp chính quyền tỉnh Hải Dương luôn luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh nói chung, và địa bàn xã Lai Vu, huyện Kim Thành nói riêng.

Đồng thời ông Quang cũng nhấn mạnh rằng doanh nghiệp và người lao động sẽ không phải mất bất kỳ khoản chi phí nào để tham gia phiên giao dịch. Trái lại sẽ được tạo mọi điều kiện tốt nhất để người lao động có cơ hội tiếp cận với  việc làm theo mong muốn của mình và phù hợp yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.

Từ khi thành lập đến nay, sàn giao dịch việc làm Hải Dương đã và đang thể hiện rõ vai trò của mình trong công tác giải quyết việc làm cho người lao động. Chỉ tính riêng trong năm 2016, sàn giao dịch việc làm đã tổ chức được 55 phiên giao dịch. Đặc biệt sàn giao dịch việc làm Hải Dương còn tổ chức các phiên giao dịch việc làm dành cho các đối tượng đặc thù như người khuyết tật, bộ đội xuất ngũ, học sinh, sinh viên… thu hút sự tham gia của hơn 1000 doanh nghiệp, tạo được việc làm cho hơn 4300 người. Với sự giúp đỡ của sàn giao dịch việc làm, người lao động được tiếp cận với thông tin, được nhận tư vấn, giới thiệu việc làm tốt hơn. Người sử dụng lao động cũng tuyển chọn được lao động phù hợp với nhu cầu, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Video Hải Dương Tạo Việc Làm Cho Người Dân Gần Khu Công Nghiệp

Bắc Ninh Tăng Cường Năng Lực Quản Lý OHS Trong Công Nghiệp

Tất cả các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã thành lập phòng khám hoặc sử dụng nhân viên về sức khỏe và an toàn lao động (OHS) để thực hiện việc sơ cứu và chăm sóc sức khoẻ  ban đầu cho nhân viên tại các cơ sở sản xuất.

Cải thiện OHS ở Bắc Ninh sẽ thu hút được nhiều lao động trong các khu công nghiệp của tỉnh.

Hơn 80% doanh nghiệp có các yếu tố nguy cơ OHS tăng đều phải được kiểm tra định kỳ và xét nghiệm môi trường làm việc, chăm sóc y tế chuyên nghiệp và chăm sóc sức khoẻ theo các quy định hiện hành. Đây là những mục tiêu chính được đề ra trong Quyết định Quản lý An toàn và Sức khoẻ lao động cho Công nhân tại Khu Công nghiệp Bắc Ninh giai đoạn 2013-2020 đã được UBND tỉnh Bắc Ninh phê duyệt.

Với 15 KCN, Bắc Ninh hiện là một trong những tỉnh có các KCN quan trọng nhất cả nước. Các KCN này đã thu hút hàng ngàn công nhân, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị, tăng thời gian lao động ở nông thôn và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, các khu công nghiệp phát triển mạnh cũng liên quan đến nguy cơ cháy nổ, nguy cơ OHS, đặc biệt khi các cơ quan, doanh nghiệp và công nhân liên quan không có nhận thức tốt về OHS .

Nhận thức được vấn đề này, các cơ quan chức năng của Bắc Ninh đã quan tâm đến hoạt động của OHS trong công nghiệp với hàng loạt các giải pháp bao gồm các thông báo an toàn tại nơi làm việc, cảnh báo tai nạn nghề nghiệp và các biện pháp phòng ngừa, và tuyên truyền Luật Phòng Cháy Chữa Cháy. Ngoài ra, tỉnh đã phê duyệt dự án “Quản lý an toàn và vệ sinh lao động cho công nhân khu công nghiệp Bắc Ninh giai đoạn 2013-2020” với tổng ngân sách hơn 33 tỷ đồng.

Mục tiêu của dự án là nâng cao năng lực quản lý ATVSLÐ và nâng cao nhận thức về OHS của nhân viên đồng thời tuân thủ các quy định về vệ sinh lao động, điều kiện làm việc và bảo vệ môi trường.

Để đạt được mục tiêu này, Bắc Ninh đã đặt ra mục tiêu cụ thể bao gồm 100% các doanh nghiệp cấp tỉnh và 80% công nhân được tuyên truyền trong các quy định của OHS; Các quy định đào tạo OHS và phòng chống bệnh nghề nghiệp; 100% doanh nghiệp cấp tỉnh có trung tâm y tế và nhân viên y tế được quy định thực hiện sơ cứu, chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người lao động tại các cơ sở sản xuất. Tỉnh đang phấn đấu xây dựng một trung tâm bảo vệ sức khoẻ sinh sản, bảo vệ môi trường và khám sức khoẻ đến năm 2020.

Trong giai đoạn 2013-2015, tỉnh sẽ tập trung thử nghiệm các mô hình OHS của doanh nghiệp tại thị trấn huyện và thành phố, và sẽ sớm nhân rộng các mô hình này. Nó cũng sẽ củng cố các nhóm làm việc ATVSLĐ ở cấp huyện và cấp độ kinh doanh, nâng cao năng lực quản lý và chuyên môn của OHS cho nhân viên OHS nhằm thúc đẩy giáo dục OHS cho người lao động.

Từ các kết quả đạt được của OHS trong năm vừa qua, cùng với dự án OHS mới được phê duyệt, Bắc Ninh chắc chắn sẽ trở nên nổi bật và thu hút thêm nhiều công nhân trong tỉnh.

Hải Dương: Kết Hợp Đào Tạo Nghề Và Giải Quyết Việc Làm Cho Lao Động Nông Thôn

Tại Hải Dương, sau nhiều năm nỗ lực triển khai Đề án 1956 về “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, hàng chục ngàn người đã được đào tạo hướng nghiệp, có công việc và thu nhập ổn định.

Cơ sở may của gia đình anh Phạm Quang Hưởng được thành lập từ năm 2010. Cuối năm này, cơ sỡ đã kết hợp với Trung tâm Dạy nghề và Giới thiệu việc làm mở lớp dạy nghề may công nghiệp. Đến cuối năm 2012, đã có 4 lớp dạy nghề may cho 140 lao động. Sau khi học nghề xong có tới 90% học viên tìm được việc làm. Trong đó, 65% được tuyển dụng vào các Công ty như Công ty may SSV (Gia Lộc) và Công ty May Việt – Hàn (TP Hải Dương). Cơ sở may của anh Hưởng cũng tạo việc làm cho 25% học viên còn lại. Nhìn chung, sau khi đào tạo học viên đều đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất.

Trong thời qua, Trung tâm Dạy nghề và giới thiệu việc làm phối hợp với các các cơ sở sản xuất ở địa phương tổ chức nhiều lớp dạy nghề cho lao động nông thôn (LĐNT), tập trung vào các nghề trồng trọt, bảo vệ thực vật, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi thủy sản, may công nghiệp. Đối với nghề nông nghiệp, phần lớn học viên sau khi học nghề đã mạnh dạn mở rộng quy mô sản xuất, tạo việc làm tại chỗ, góp phần phát triển kinh tế hộ. Đối với các nghề khác, học viên được trung tâm giới thiệu việc làm tại các doanh nghiệp hoặc được hỗ trợ mở xưởng sản xuất tại gia đình; tư vấn để lao động có tay nghề cao đi xuất khẩu lao động. Tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo đạt gần 80%.

Trung tâm Dịch vụ việc làm 8 – 3 cũng là một đơn vị nổi bật trong công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Giám đốc Trung tâm Dịch vụ việc làm 8 – 3 cho biết: sau đào tạo, trung tâm đã tư vấn, giới thiệu việc làm tại các doanh nghiệp cho các lao động nữ trẻ. và tạo việc làm tại chỗ cho những lao động có tuổi lớn hơn. Trong những năm gần đây, 60 – 70 % số lao động học nghề tại trung tâm đã tìm được việc làm”.

Trên địa bàn tỉnh Hải Dương có hơn 20 cơ sở đào tạo nghề đã ký hợp đồng với sở LĐTB&XH. Các cơ sở này đã mở hơn 800 lớp học với hơn 29 nghìn học viên, kết hợp đào tạo nghề với giải quyết việc làm nên số lao động có việc làm sau học nghề đạt trên 75%.

Sở đã đưa ra nhiều phương pháp như nâng cao chuyên môn của các cơ sở dạy nghề, khuyến khích các tổ, các cá nhân tham gia dạy nghề. Yêu cầu các cơ sở đào tạo nghề phù hợp với yêu cầu của thị trường việc làm và quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động. Tăng cường sự liên kết giữa các cơ sở đào tạo nghề với các doanh nghiệp trong việc dạy nghề đi đôi với giải quyết việc làm.

Trẻ, Có Trình Độ Học Vấn Nhưng Vẫn Thất Nghiệp: Sinh Viên Việt Nam Vất Vả Tìm Kiếm Việc Làm

“Làm thế nào để tôi có thể có kinh nghiệm ngay sau khi tốt nghiệp đại học? Không có công ty nào muốn tuyển dụng một nhân viên có ít kinh nghiệm như tôi “, Nguyễn Thúy Hằng, 22 tuổi, cho biết trong khi đang tìm kiếm công việc kế toán trên một trang web việc làm.

Cô sinh viên tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội đã gửi CV cho hàng chục công ty trong và ngoài nước, nhưng chỉ ba trong số đó đã gọi cho cô để phỏng vấn. Thật không may, cô nói, do ít kinh nghiệm hơn những ứng cử viên khác và không tạo được nhiều ấn tượng.

“Người sử dụng lao động yêu cầu ứng cử viên có trình độ chuyên môn ở trình độ trung cấp và kỹ năng tiếng Anh và CNTT, mặc dù đây chỉ là công việc cấp thấp”.
Sau 4 năm học tập tại trường đại học và làm thêm công việc dạy kèm và bán hàng tại một cửa hàng văn phòng phẩm, cô vẫn chưa có được một công việc toàn thời gian.

Hằng là một trong số hơn 400.000 sinh viên tốt nghiệp đại học tham gia thị trường lao động Việt Nam mỗi năm. Nhiều người trong số họ đấu tranh để tìm một công việc.

Mỗi năm họ đều gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm cho sinh viên tốt nghiệp, và việc đó càng ngày càng khó khăn hơn.

Lê Thanh Tuyền, người bán đồ lưu niệm tại chợ đêm ở khu phố cổ Hà Nội, tốt nghiệp với bằng cử nhân tài chính ngân hàng năm ngoái. Cô ấy đã gửi CV tới nhiều nơi khác nhau, nhưng thậm chí không bao giờ nhận được câu trả lời. “Tôi không biết khi nào tôi có thể tìm được việc làm trong lĩnh vực học tập của mình. Thật khó để tìm được việc trong thời buổi này.”
Các dịch vụ và các ngành công nghiệp đang được cải thiện nhưng không mở rộng đủ nhanh để thu hút số lượng luật sư, kế toán, nhà sinh học và các chuyên gia trẻ khác.

Ông Dương Đức Lan, giám đốc phòng dạy nghề của Bộ Lao động, cho biết đất nước có thể có nhiều sinh viên tốt nghiệp hơn mức cần thiết.

Việt Nam có khoảng một triệu học sinh tốt nghiệp trung học hàng năm và chỉ có khoảng 3 phần trăm trong số họ đi học tại các trường dạy nghề, trong khi hầu hết những người khác chỉ muốn có bằng đại học.

Theo số liệu mới nhất của Bộ, số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học không thể tìm được việc làm đang gia tăng và hiện nay nhóm này chiếm tới một phần năm số lao động thất nghiệp trên cả nước.

Số dư?

Bộ giáo dục cho biết 225.500 người có bằng cử nhân hoặc thạc sĩ hiện không có việc làm, tăng 13,3 phần trăm từ quý thứ ba năm 2015.

Để nâng cao chất lượng giáo dục, bộ giáo dục gần đây đã ban hành một chính sách nhằm hạn chế số học sinh ở mỗi trường đến dưới 15.000, bắt đầu từ năm 2016.

Tuy nhiên, ông Hoàng Ngọc Vinh, giám đốc bộ phận giáo dục chuyên nghiệp của Bộ, cho biết vấn đề thất nghiệp có thể là do chất lượng giáo dục đại học chứ không phải là sự thiếu hụt của sinh viên tốt nghiệp đại học.

Khoảng 25-30% lực lượng lao động ở các nước phát triển là sinh viên tốt nghiệp đại học, trong khi tỷ lệ này chỉ ở Việt Nam là 7%.

Nhiều nhà tuyển dụng nói rằng sinh viên có thể có kiến ​​thức về sách giáo khoa nhưng không có khả năng sử dụng kiến ​​thức đó để suy nghĩ nghiêm túc, đổi mới, giải quyết các vấn đề phức tạp và làm việc tốt trong nhóm.

Giám đốc một nhà nhập khẩu thiết bị y tế tại Hà Nội cho biết công ty của ông muốn tuyển dụng một số kỹ sư, nhưng không ai trong số hàng chục ứng viên đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của họ.

Nhiều kỹ sư không biết tiếng nước ngoài và không theo kịp sự phát triển trong lĩnh vực của mình, ông nói. Để có các kỹ sư đáp ứng được yêu cầu, công ty phải chi một khoản tiền lớn để đào tạo nhân viên trong và ngoài nước.

Giám đốc điều hành công ty tìm kiếm Navigos Search, bà Nguyễn Thị Vân Anh nói rằng việc thiếu các kỹ năng cần thiết nghiêm trọng hơn nhiều ở Việt Nam so với các nước ASEAN khác như Singapore, Malaysia và Thái Lan.
Các kỹ sư địa phương không cập nhật về thông tin và công nghệ, cũng như thiếu kỹ năng ngoại ngữ và sự sáng tạo, bà nói. Các nhà quản lý có kỹ năng và kiến ​​thức khá khiêm tốn trong quản lý, pháp luật và tài chính.

Giám đốc Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Gyorgy Sziraczki, cho biết: “Khoảng cách giữa các kỹ năng và sự không phù hợp vẫn tồn tại giữa lớp học và nơi làm việc.”

Vì vậy, để giải quyết những thiếu sót và giải quyết nhu cầu trong tương lai cho các kỹ năng thông qua chính sách giáo dục tốt hơn, hợp tác kinh doanh và tham gia kinh doanh trong việc phát triển các tiêu chuẩn kỹ năng và chương trình đào tạo là rất quan trọng. ”

ILO đã đưa ra các khuyến nghị để giúp Việt Nam tăng cường việc làm, bao gồm sắp xếp kế hoạch kinh tế và lực lượng lao động, chứng nhận kỹ năng và tăng cường hợp tác giữa các nhà cung cấp giáo dục và khu vực tư nhân.

Đang chờ đợi

Nhiều sinh viên tốt nghiệp muốn có việc làm trong các cơ quan nhà nước, vốn có ít nhu cầu về nguồn nhân lực. Các cơ sở tư nhân rất kén chọn, và bằng đại học dường như không phải là cánh chìa khóa để sinh viên mở cánh cửa vào các cơ sở này.

Tại các thành phố như thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội, nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp, đi làm có mức lương thấp, theo bà Nguyễn Thị Lan Hương, Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội.

Tuy nhiên, một số khác lại không muốn làm các công việc đó và chờ đợi những công việc được trả lương cao mà không họ bao giờ có thể với tới vì họ không có kỹ năng tiếng Anh hoặc kiến ​​thức và sự tự tin để có thể cạnh tranh cho số lượng nhỏ các công việc hàng đầu.

Nguyễn Duy Long đã thất bại trong việc có được việc làm từ khi tốt nghiệp trường Đại học Thương mại Hà Nội cách đây hai năm, nhưng anh không muốn trở thành một công nhân lao động phổ thông.

“Có rất nhiều công việc, nhưng rất ít trong số đó đáp ứng được mong đợi của tôi,” anh nói trong lúc tham dự một hội chợ việc làm. Nhưng do gia đình ở Hà Nội, nên anh không cần gấp trong việc tìm kiếm việc làm.

Giống như Long, nhiều sinh viên tốt nghiệp không muốn làm lao động phổ thông mặc dù đang thất nghiệp làm hay tiền bạc.

Họ phụ thuộc vào cha mẹ của họ. Chờ đợi đã trở thành một nghề đối với những người trẻ tuổi.

Ông Phan Trường Sơn, quản lý chuỗi nhà hàng, quán cà phê, cửa hàng tại Hà Nội, cho biết công ty của ông đã thông báo tuyển dụng 20 nhân viên bán hàng và bồi bàn, nhưng chỉ có ba người ứng tuyển.

“Những sinh viên tốt nghiệp mới nên làm những công việc đơn giản để có kinh nghiệm và học giao tiếp với mọi người, thay vì chờ đợi công việc văn phòng”, ông nói.

“Việc làm là người thầy giỏi nhất về các kỹ năng mềm mà nhà tuyển dụng tìm kiếm.”

Thành Phố Hà Nội Giải Quyết Việc Làm Cho Hàng Nghìn Lao Động

Vừa qua, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (LĐTB&XH) đã đánh giá tình hình thực hiện các nhiệm vụ năm 2016 và đặt mục tiêu mới cho năm 2017 thông qua một hội nghị được tổ chức trực tuyến.

Theo đánh giá, hầu hết các chỉ tiêu kế hoạch năm 2016 đều hoàn thành và vượt mức kế hoạch đề ra. Duy trì và tăng cường tốt công tác quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của ngành…

Về Hà Nội

Dù vậy, vẫn còn tồn tại một số hạn chế chưa giải quyết được như vấn đề tìm việc làm cho thanh niên và sinh viên mới tốt nghiệp. Trong quý ba năm 2016, trên cả nước có hơn 202.000 cử nhân cao đẳng, đại học, thac sĩ không tìm được việc làm. Tỷ lệ lao động bỏ hợp đồng, cứ trú và làm việc bất hợp pháp vẫn còn cao tại thị trường nước ngoài như tại Hàn Quốc, Đài Loan…

Đối với các cơ sở dạy nghề, việc tuyển sinh, tuyên truyền, tư vấn, hướng nghiệp còn hạn chế; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS đi học nghề còn khá thấp.

Các trường dạy nghề khó thu hút được sinh viên là do tâm lí thích học đại học hơn học nghề của nhiều thanh niên. Việc đăng kí các nghề để học không dựa vào nhu cầu thực sự của thị trường lao động. Hơn nữa, chất lượng dạy nghề còn thấp, nội dung chương trình và giáo trình giảng dạy chưa phù hợp với thực tế của thị trường lao động đang biến động từng ngày…

Tại hội nghị, Giám đốc Sở LĐTB&XH Hà Nội Khuất Văn Thành đã tập trung vào giải quyết các vấn đề về lao động và việc làm.

Theo đó, dù còn gặp nhiều khó khăn trong năm 2016 nhưng ngành vẫn đạt được nhiều kết quả khả quan trên các lĩnh vực liên quan đến lao động việc làm, người có công và xã hội.

Sở LĐTB&XH luôn coi việc giải quyết việc làm cho người lao động là một nhiệm vụ quan trọng vì với dân số hơn 7,5 triệu người, lao động ngoại tỉnh gần 2 triệu và dân số mỗi năm tăng hơn 20.000 người, áp lực về lao động việc làm của Hà Nội là rất lớn.

Với việc triển khai nhiều biện pháp quyết liệt để giải quyết việc làm, đến hết năm 2016, Hà Nội đã giải quyết được việc làm cho hơn 151.800 lao động, đạt 101% kế hoạch.

Để kích thích sự phát triển của thị trường lao động, Hà Nội chỉ đạo nâng cao chất lượng hoạt động của sàn giao dịch việc làm, xây dựng các điểm giao dịch việc làm vệ tinh ở 8 quận huyện, liên kết với sàn giao dịch việc làm Hà Nội để tạo thị trường việc làm rộng lớn ở khắp các quận huyện.

Hệ thống giao dịch việc làm qua các sàn giao dịch vệ tinh ở các quận huyện đã giúp hơn 25.000 lao động tìm được việc làm. Ngoài ra, với việc thực hiện vay hơn 500 tỷ đồng từ quỹ quốc gia giải quyết việc làm cũng giúp Hà Nội giải quyết được việc làm cho hơn 39.000 lao động.

Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH Đào Ngọc Dung đánh giá Hà Nội đã có nhiều phương pháp để sàn giao dịch việc làm thực sự có hiệu quả, đem lại kết quả khả quan, kết nối thị trường, tạo cung cầu, hướng dẫn cho người lao động tiếp cận với thị trường và doanh nghiệp.