Cùng Khám Phá Những Địa Danh Nổi Tiếng Ở Hà Nội

* Hoàng Thành Thăng Long-Hà Nội

Khu Hoàng Thành Thăng Long-Hà Nội là sự kết hợp hài hòa giữa lối kiến trúc Đại Việt-Chămpa-Trung Hoa tạo nên công trình văn hóa, tâm linh, quân sự của kinh đô Đại Việt từ thế kỷ 11-18. Khu Hoàng Thành Thăng Long-Hà Nội bao gồm khu thành cổ Hà Nội và khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu. Khu di tích có diện tích vùng ven khoảng 108 ha, diện tích khu trung tâm hơn 18 ha. Vào năm 2010, trong phiên họp lần thứ 34, tổ chức Unesco đã công nhận Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội là Di sản văn hóa thế giới.
Khu di tích thành cổ Hà Nội: rộng hơn 13 ha, khu vực trung tâm di tích còn lại năm điểm di tích tiêu biểu là Đoan Môn, Kỳ Đài, nền Cung Điện Kính Thiện, Bắc Môn, Hậu Lâu.
– Đoan Môn: Là cổng phía Nam, có ba vòm cửa, cửa chính giữa chỉ dành riêng cho vua, Đoan Môn là lối đi dẫn đến cung điện Kính Thiên. Từ triều đại nhà Lý đã cho xây dựng cổng, nhưng di tích Đoan Môn hiện nay là do nhà Hậu Lê xây dựng và được nhà Nguyễn tu sửa ở thế kỷ 19.
– Kỳ đài: Được vua nhà Nguyễn xây dựng năm 1805, Kỳ Đài có 3 tầng: Tầng một cao 3,1m, tầng hai cao 3,7 m, tầng cao 5,1 m; trong thân Kỳ Đài có 54 bậc tam cấp xoáy hình trôn ốc dẫn tới đỉnh.
– Nền điện Kính Thiên: Được xây dựng năm 1428, dưới triều Hậu Lê trên nền điện Càn Nguyên nhà Lý, Trần. Ngày xưa điện Kính Thiên đã bị thực dân Pháp phá hủy; hiện nay chỉ còn lại nền điện, bậc tam cấp và rồng đá chạm trổ tinh xảo từ thế kỷ 15.
– Bắc môn: Được xây năm 1805, dưới triều vua Gia Long, Bắc Môn được làm bằng gạch, cổng vòm bằng đá.
– Hậu lâu: Còn có tên gọi khác là Tĩnh Bắc Lâu, Lầu Công Chúa là hành cung nghỉ ngơi của phi tần, mỹ nữ, cung nữ vua Nguyễn khi Hoàng đế Ngự giá Bắc Tuần. Hậu Lâu đã bị phá hủy ở thế kỷ 19 và công trình hiện nay do thực dân Pháp xây dựng lại.
Khu di tích khảo cổ tại 18 Hoàng Diệu: Được phát hiện và khai quật năm 2002, chia làm 4 khu A, B, C, D. Tại địa điểm khai quật phát hiện vết tích nền móng trụ cột gỗ, đồ đồng, đồ sứ, giếng nước, di cốt động vật,… có niên đại từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 19. Chứng tỏ khu di tích này trước kia từng là trung tâm chính trị quyền lực của các triều đại phong kiến nước ta.
Tại di tích khảo cổ 18 Hoàng Diệu, các nhà khảo cổ học Việt Nam, Nhật Bản đã phát hiện dấu tích cung điện, hiện vật tiêu biểu như: ngói ống có men xanh, chén sứ Ai Cập, tượng chim thần Garuda, …Phản ánh mối quan hệ thương mại, giao lưu văn hóa giữa Đại Việt và các nước Trung Quốc, Tây Á, Chămpa, Nhật Bản,…

Địa chỉ: Quán Thánh, quận Ba Đình, TP-Hà Nội
Điện thoại: 090.448.1157
Website: Hoangthanhthanglong.vn

* Văn miếu – Quốc Tử Giám

Năm 1070, đời vua Lý Thánh Tông truyền chỉ dụ dựng Văn Miếu, đắp tượng Khổng Phu Tử, Nguyên Thánh và đưa Thái Tử đến Văn Miếu học.
Tháng 4-1253, Hoàng đế Trần Thái Tông ban chỉ mở rộng Quốc Tử Giám thu nhận con dân thường có học lực xuất sắc về học.
Đời vua Trần Minh Tông trị vì, vua vời Chu Văn An làm quan Quốc Tử Giám Tư nghiệp, Chu Văn An kèm cặp dạy bảo Thái tử và các hoàng tử. Năm 1370 thầy Chu Văn An qui tiên, vua Trần Nghệ Tông cho thờ thầy ở Văn Miếu bên cạnh đức Khổng Tử.
Năm 1484, minh quân Lê Thánh Tông cho dựng 15 bia Tiến sĩ đầu tiên của những người đỗ Tiến sĩ từ khoa thi năm 1442 đến 1779.
Vua Gia Long nhà Nguyễn truyền bãi bỏ Quốc Tử Giám ở Hà Nội, đổi tên thành nhà Thái Học để thờ cha mẹ Khổng Phu Tử, xây thêm Khuê Văn Các ở trước Văn Miếu.
Năm 1999, TP-Hà Nội quyết định xây dựng lại nhà Thái Học có diện tích 1.530 m2 trên nền đất cũ của Quốc Tử Giám, trong khuôn viên Văn miếu – Quốc Tử Giám.

Kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám:

Văn Miếu – Quốc Tử Giám có tổng diện tích 54.331m2, phía trước cổng là bốn trụ cột lớn, hai bên tả hữu có hai bia đá “hạ mã”. Đi vào Nội tự được chia làm 5 khu vực gồm:
Khu 1 (Nhập đạo): Từ cửa Văn Miếu đến cửa Đại Trung, hai bên cửa Đại Trung có thêm hai cửa nhỏ ở hai bên là Đạt Tài môn và cửa Thành Đức môn.
Khu 2 (Thành đạo): Từ cửa Đại Trung đến Khuê Văn Các, hai bên Khuê Văn Các có hai cửa nhỏ là Súc Văn môn và Bí Văn môn
Khu 3: Có 82 bia tiến sĩ, khắc tên, nguyên quán của 1304 vị đậu Tiến sĩ với 82 khoa thi (1484-1780). Khu bia nằm đối diện hai bên Thiên Cung tỉnh là cửa Đại Thành; cửa Đại Thành có hai cửa nhỏ là Ngọc Chấn môn và Kim Thanh môn.
Khu 4 (Đại Thành Điện): Ở hai bên sân Đại Bái có dãy nhà Tả vu và Hữu vu nơi thờ tự bài vị 72 người học trò tài giỏi của Khổng Phu Tử và nhà giáo dục lỗi lạc Chu Văn An,…Những công trình kiến trúc trong Văn Miếu được đẽo, gọt bằng gỗ lim, ngói mũi hài, gạch nung được bàn tay tài hoa người thợ nước Việt xây dựng để tôn vinh nền nho học nước ta.
Khu 5: Khu Thái học là nơi thờ cúng song thân đức Khổng Tử, vốn trước kia Thái Học là trường Quốc Tử Giám thời Lý-Trần-Lê sau đó vua nhà Nguyễn dời Quốc Tử Giám vào kinh đô Phú Xuân.

Địa chỉ: 58 Quốc Tử Giám, quận Đống Đa, TP-Hà Nội
Điện thoại: 0437472566
Website: Vanmieu.gov.vn

* Chùa Một Cột

Tên thường gọi Chùa Một Cột, nhưng tên gọi chính xác là Liên Hoa Đài nằm trong khuôn viên chùa Diên Hựu.
Hoàng đế Lý Thái Tông chiêm bao thấy Quan Âm Bồ Tát ngự trên đài sen, Ngài đưa tay dắt vua lên đài sen. Sau khi tỉnh giấc mộng vua cho truyền quần thần, thuật lại câu chuyện, nhà sư Thiền Tuệ đã tâu với vua nên dựng cột đá giữa hồ làm đài sen của Quan Thế Âm như trong giấc mơ và đặt tên là Liên Hoa Đài .
Chùa Một Cột trải qua nhiều lần trùng tu trong các triều đại, Chùa Một Cột hiện nay được chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa xây dựng lại năm 1955 sau khi bị thực dân cài thuốc nổ đánh sập năm 1954. Chùa được thiết kế bằng gỗ, lợp mái ngói, chùa được dựng trên một chân trụ đá; trụ đá cao 4m (chỉ tính phần nổi, chưa tính phần chìm trong nước), đường kính 1,2m.

Địa chỉ: Đội Cấn, quận Ba Đình, TP-Hà Nội
Điện thoại: 096.808.6529

Video: Hoàng Thành Thăng Long-Hà Nội

Về Bắc Ninh Thăm Đình Làng Hoài Thượng Và Nghe Kể Chuyện Trạng Nguyên Nguyễn Đăng Đạo

Nằm yên bình nơi thôn dã, đình làng Hoài Thượng (xã Liên Bão, huyện Tiên Du) là nơi thờ tự Lưỡng quốc Trạng Nguyên Nguyễn Đăng Tạo (Trạng Bịu)- một vị Tể tướng làm quan triều Hậu Lê và thờ ba vị đông quân: Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam – những vị tướng có công chống ngoại xâm thời Hai Bà Trưng.

Đình Hoài Thượng được xây dựng ở thời Hậu Lê, đình mang nhiều kiến trúc độc đáo được bàn tay người thợ Đại Việt kỳ công chạm trổ, điêu khắc tinh xảo. Đình còn giữ được nhiều hiện vật, tài liệu cổ có giá trị lịch sử như: Sắc phong, quấn thư, hoành phi, bài vị, sập thờ, câu đối, binh khí, kiệu bát cống, câu đối,…Đình còn bảo lưu bút tích thơ văn của Tể tướng Nguyễn Đăng Đạo.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư của sử gia Ngô Sĩ Liên thì Nguyễn Đăng Đạo sinh năm 1651, qui tiên năm 1719, người thôn Hoài Thượng. Ông sinh ra trong gia đình khoa bảng, bác ruột là Thám hoa Nguyễn Đăng Cảo,  cha là Tiến sĩ Nguyễn Đăng Minh, em ruột Tiến sĩ Nguyễn Đăng Tuân. Nguyễn Đăng Đạo đỗ Khôi Nguyên kì thi quý hợi (1683), triều vua Lê Hy Tông. Sau khi đỗ Trạng nguyên ông được bổ dụng làm ở tòa Đông Các, rồi được bổ vào Hàn Lâm Viện, tiếp đó Nguyễn Đăng Đạo lần lượt kinh qua nhiều chức vụ trọng yếu trong triều đình Hậu Lê như: Lại Bộ Hữu Thị Lang, Đô Ngự Sử, Thượng thư Bộ Lễ kiêm Đông các Đại học sĩ, Binh bộ thượng thư, Tể tướng. Ông được vua Lê rất trọng vọng, bạn bè đồng lưu kính ngưỡng.

Giai thoại về Nguyễn Đăng Đạo, mẫu thân Ngài chiêm bao ngôi sao lớn sáng như bó đuốc sa vào bụng bà mà sinh ra Đạo. Thuở niên thiếu Đăng Đạo được người bác (Thám hoa Nguyễn Đăng Cảo ) rất mực yêu quí đứa cháu nhỏ, ông thường bế cháu và vỗ bụng chú bé mà bảo là “Triều đình ghét ta không cho đỗ Khôi Nguyên, chứ thằng cháu nhỏ này, dù không cho cũng không được. ” Lúc Đạo mới dăm ba tuổi theo bác ra ải môn quan đón tiếp sứ thần triều Thanh, sứ Thanh vốn giỏi thuật tướng số, trông thấy thần sắc chú bé Đạo tóc còn để chỏm, bèn nói “Thiên sơn vạn thủy, lam chướng bất xâm, chơn kỳ đồng dã” (tạm dịch nghĩa: “Dặm ngàn non nước mà lam chướng không xâm phạm nổi, thì cũng là đứa trẻ khác lạ.”).

Nhà Thanh nhiều lần cho quân xâm chiếm biên ải nước ta, vua cử Đăng Đạo dẫn đầu sứ đoàn Đại Việt sang thương thuyết, tỏ bày chuyện đúng sai, tỏ rõ vị thế  Đại Việt. Ông hoạt ngôn ứng đối thơ văn, lập luận chuyện cương thổ thấu tình đạt lý làm cho vua Thanh cùng sứ đoàn các nước phải khâm phục. Vua Thanh phong cho ông là  “Bắc triều đệ nhất trạng nguyên”, ban y mão, lệnh quan quân hộ tống ông về tới quan ải Đại Việt. Tài ngoại giao, thơ văn, quân sự, chính trị xuất chúng của Nguyễn Đăng Đạo đã làm rạng danh trang sử hào hùng dân tộc.

Với quê hương Kinh Bắc, Cụ Nguyễn Văn Kháng, 77 tuổi, thủ từ đình làng Hoài Thượng kể: Ông làm tới chức Tể Tướng nhưng ông thường vẫn quan tâm đến đời sống người dân. Khi có dịp về quê ông hỏi thăm chuyện học hành, cày cấy của dân quanh vùng. Dân làng Hoài Thượng vẫn còn nhớ câu chuyện chia ruộng thuở xưa: Ông xin lĩnh đất hoang, đất xấu rồi cho những gia đình nghèo ra đó khẩn hoang, cải tạo thành ruộng cày cấy được thì ông chia cho các gia đình nghèo đó luôn.

Nhân dân quanh vùng còn nhớ ơn cứu đói dân chúng  của vị quan thanh liêm, vào một năm mất mùa, dân quê ông đói khổ, làng quê xác xơ. Trước tình cảnh ấy, ông viết thư cho phu nhân mình nhờ phát tiền, phát gạo, phát thóc giống cứu dân. Nhờ đó mà người dân vượt qua cơn đói kém, ổn định dần cuộc sống.

Năm 1719, ông qui tiên, vua Lê Dụ Tông ban bốn chữ vàng “Lưỡng quốc Trạng nguyên” treo trang trọng tại đề thờ ông.

Mỗi năm cứ vào ngày 12-1 (âm lịch), dân làng thôn Hoài Thượng lại nô nức tổ chức hội làng để tưởng nhớ ba vị tướng quân và quan Tể tướng Nguyễn Đăng Đạo nhằm giữ gìn, phát huy truyền thống  hiếu học trên quê hương Lưỡng quốc Trạng Nguyên Nguyễn Đăng Đạo. Phần lễ được tổ chức trang nghiêm, ấm cúng, đúng tục lệ được các cụ cao niên trong làng truyền lại. Phần hội sôi động với nhiều trò chơi dân gian như đập niêu, kéo co, tổ tôm điếm, vật, hát quan họ,…

Qua năm tháng tàn phá của chiến tranh, thiên nhiên, đình Hoài Thượng không còn nguyên vẹn như xưa. Nhân dân địa phương góp công, góp sức để tôn tạo ngôi đình làng, làm nơi thờ cúng các vị danh nhân có công với nước. Ngoài ra, đình làng Hoài Thượng còn là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, giáo dục truyền thống hiếu học cho thế hệ trẻ.