Những Địa Điểm Du Lịch Ở Hải Phòng

Nhà hát thành phố Hải Phòng

Nhà hát TP-Hải Phòng (Nhà hát lớn Hải Phòng), được chính quyền thực dân Pháp xây dựng từ năm 1904 đến năm 1912 thì hoàn thành. Nhà hát được xây  trên nền khu chợ cũ làng cổ An Biên. Khu vực nhà hát TP-Hải Phòng được xem là khu vực trung tâm thành phố, nơi giao điểm giữa khu dân cư người Việt, người Âu, người Hoa được chính quyền đô hộ Pháp qui hoạch thời bấy giờ.

Nhà hát mô phỏng nguyên mẫu nhà hát Paris, nhà hát có kiến trúc cổ điển thời trung cổ. Tất cả nguyên vật liệu thi công đều được vận chuyển từ Pháp sang, do thợ xây Việt ta thực hiện dưới sự hướng dẫn của kiến trúc sư Pháp.

Nhà hát thành phố Hải Phòng có hai tầng, phía trước nhà hát là quảng trường rộng, có bồn hoa, có đài phun nước; đi vào bên trong  là tiền sảnh, khán phòng 400 chỗ ngồi, phòng gửi đồ, phòng phục trang, căn tin, hành lang. Trần khán phòng hình vòm, được sơn màu vàng. Phía trên sân khấu có đặt tượng thần âm nhạc, vị thần bảo hộ cho nghệ sĩ,…

Vào thời kỳ Pháp thuộc, nhà hát là nơi sinh hoạt văn hóa, hội họp chính trị của chính quyền thực dân và giới người giàu bản xứ. Những gánh hát nổi tiếng ba miền hay các gánh hát từ Pháp mới được biểu diễn ở đây. Ngày hôm nay, nhà hát lớn Hải Phòng là nơi tổ chức biểu diễn nghệ thuật những dịp lễ lớn, sự kiện quan trọng, khu vực quảng trường nhà hát là nơi đón giao thừa-xem bắn pháo hoa của người dân Phố Cảng.

Trải qua nhiều lần trùng tu qui mô, cho đến nay nhà hát lớn Hải Phòng vẫn giữ được lối thiết kế nguyên bản của một công trình kiến trúc độc đáo mang đậm chất châu Âu.

Vịnh Lan Hạ

Vịnh Lan Hạ có khoảng 400 hòn đảo lớn nhỏ, tạo nên bức tranh thủy mặc khổng lồ giữa trùng khơi. Một vài đảo nhỏ có bãi cát vàng mịn, rừng cây hoang sơ, động thực vật đa dạng. Trong vịnh có ngôi làng nổi Cái Bèo, làng có 200 hộ dân cư ngụ trên những ngôi nhà phao, dân làng  sống bằng nghề chài lưới, nuôi hải sản trong lồng bè,…Nhiều công trình của các nhà khảo cổ cho rằng làng nổi cái Bèo đã có tuổi đời trên nghìn năm.

Vịnh Lan Hạ sở hữu 139 bãi cát vàng thơ mộng, hoang sơ, dòng nước biển xanh ngắt. Nhiều bãi cát trải dài giữa những dãi núi đá vôi nhấp nhô, đủ hình thù kỳ lạ. Nằm phơi mình trên bãi cát ngắm bình minh hay buổi chiều chiêm ngưỡng hình ảnh mặt trời chìm dần xuống đáy biển lúc hoàng hôn buông xuống quả là những khoảnh khắc tuyệt đẹp.

Chèo thuyền kayak đi xuyên qua lòng núi đá vôi, chèo thuyền tham quan, lặn ngắm san hô đảo Cù, đảo Sến. Đến đảo Khỉ bạn sẽ bắt gặp cả đàn khỉ vàng vui nhộn, nghịch ngợm, rất dễ thương.

Núi Voi

Quần thể Núi Voi là sự kết hợp giữa núi đá, núi đất xen kẽ lẫn nhau tạo nên hình ảnh kỳ vĩ, trùng điệp mạn Đông Bắc nước Việt. Núi Voi tọa lạc trên địa bàn ba xã An Tiến, An Thắng và Trường Thành, thuộc huyện An Lão. Núi voi có những hang động đẹp lạ lùng như hang Cá Chép, Nam Tào, hang Chiêng. Trong hang núi có nhiều nhũ đá, măng đá hình đầu voi, hình bàn cờ, hình hổ, hình rồng,…

Khu di tích núi Voi không chỉ kỳ vĩ, đẹp mắt bởi những hình thù kì lạ trong hang động được tạo nên bởi bàn tay của thiên nhiên mà còn ẩn chứa di tích khảo cổ học rất có giá trị lịch sử về thời kỳ tiền sử của người Việt Cổ. Tại núi Voi, vào thời Pháp thuộc, nhiều nhà khảo cổ học người Pháp đã tìm thấy di vật rìu đá, đĩa đá, bàn mài đá, dao găm đá,… hay hiện vật bằng đồng như mũi tên đồng, chén đồng, ly đồng, giáo đồng,…

Quần thể di tích còn có đền thờ Cao Sơn Đại Vương, là vị tướng thân cận của Hùng Duệ Vương (vua hùng thứ 18).

Núi Voi có địa thế hiểm yếu, nhiều hang động lớn, núi non hiểm trở, được hai con sông Đa Độ và Lạch Tray bao bọc, thuận lợi cho giao thông thủy bộ. Vì vậy núi Voi từng được nư tướng Lê Chân chọn xây dựng làm căn cứ địa chiêu binh, huấn luyện nghĩa binh, tích trữ lương thực khí giới để cùng Hai Bà Trưng kháng giặc Đông Hán. Núi Voi cũng từng được nhà Mạc xây dựng thành lũy, đào hào, luyện tập binh mã để đánh nhà Lê Sơ. Trong thời đại Hồ Chí Minh, Núi Voi một lần nữa lại được quân dân miền Bắc xây dựng thành hệ thống hang, hầm ngầm để chữa trị thương binh, làm hầm tránh bom, bố trí trận địa phòng không bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa với những địa danh như hang Chạn, hang Hải quân, hang Già Vị hang Thành ủy. Gợi lại cho ta những năm tháng kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược bi thương mà hào hùng.

Video: Vịnh Lan Hạ FlyCam

Cùng Khám Phá Những Địa Danh Nổi Tiếng Ở Hà Nội

* Hoàng Thành Thăng Long-Hà Nội

Khu Hoàng Thành Thăng Long-Hà Nội là sự kết hợp hài hòa giữa lối kiến trúc Đại Việt-Chămpa-Trung Hoa tạo nên công trình văn hóa, tâm linh, quân sự của kinh đô Đại Việt từ thế kỷ 11-18. Khu Hoàng Thành Thăng Long-Hà Nội bao gồm khu thành cổ Hà Nội và khu di tích khảo cổ học 18 Hoàng Diệu. Khu di tích có diện tích vùng ven khoảng 108 ha, diện tích khu trung tâm hơn 18 ha. Vào năm 2010, trong phiên họp lần thứ 34, tổ chức Unesco đã công nhận Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long – Hà Nội là Di sản văn hóa thế giới.
Khu di tích thành cổ Hà Nội: rộng hơn 13 ha, khu vực trung tâm di tích còn lại năm điểm di tích tiêu biểu là Đoan Môn, Kỳ Đài, nền Cung Điện Kính Thiện, Bắc Môn, Hậu Lâu.
– Đoan Môn: Là cổng phía Nam, có ba vòm cửa, cửa chính giữa chỉ dành riêng cho vua, Đoan Môn là lối đi dẫn đến cung điện Kính Thiên. Từ triều đại nhà Lý đã cho xây dựng cổng, nhưng di tích Đoan Môn hiện nay là do nhà Hậu Lê xây dựng và được nhà Nguyễn tu sửa ở thế kỷ 19.
– Kỳ đài: Được vua nhà Nguyễn xây dựng năm 1805, Kỳ Đài có 3 tầng: Tầng một cao 3,1m, tầng hai cao 3,7 m, tầng cao 5,1 m; trong thân Kỳ Đài có 54 bậc tam cấp xoáy hình trôn ốc dẫn tới đỉnh.
– Nền điện Kính Thiên: Được xây dựng năm 1428, dưới triều Hậu Lê trên nền điện Càn Nguyên nhà Lý, Trần. Ngày xưa điện Kính Thiên đã bị thực dân Pháp phá hủy; hiện nay chỉ còn lại nền điện, bậc tam cấp và rồng đá chạm trổ tinh xảo từ thế kỷ 15.
– Bắc môn: Được xây năm 1805, dưới triều vua Gia Long, Bắc Môn được làm bằng gạch, cổng vòm bằng đá.
– Hậu lâu: Còn có tên gọi khác là Tĩnh Bắc Lâu, Lầu Công Chúa là hành cung nghỉ ngơi của phi tần, mỹ nữ, cung nữ vua Nguyễn khi Hoàng đế Ngự giá Bắc Tuần. Hậu Lâu đã bị phá hủy ở thế kỷ 19 và công trình hiện nay do thực dân Pháp xây dựng lại.
Khu di tích khảo cổ tại 18 Hoàng Diệu: Được phát hiện và khai quật năm 2002, chia làm 4 khu A, B, C, D. Tại địa điểm khai quật phát hiện vết tích nền móng trụ cột gỗ, đồ đồng, đồ sứ, giếng nước, di cốt động vật,… có niên đại từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ 19. Chứng tỏ khu di tích này trước kia từng là trung tâm chính trị quyền lực của các triều đại phong kiến nước ta.
Tại di tích khảo cổ 18 Hoàng Diệu, các nhà khảo cổ học Việt Nam, Nhật Bản đã phát hiện dấu tích cung điện, hiện vật tiêu biểu như: ngói ống có men xanh, chén sứ Ai Cập, tượng chim thần Garuda, …Phản ánh mối quan hệ thương mại, giao lưu văn hóa giữa Đại Việt và các nước Trung Quốc, Tây Á, Chămpa, Nhật Bản,…

Địa chỉ: Quán Thánh, quận Ba Đình, TP-Hà Nội
Điện thoại: 090.448.1157
Website: Hoangthanhthanglong.vn

* Văn miếu – Quốc Tử Giám

Năm 1070, đời vua Lý Thánh Tông truyền chỉ dụ dựng Văn Miếu, đắp tượng Khổng Phu Tử, Nguyên Thánh và đưa Thái Tử đến Văn Miếu học.
Tháng 4-1253, Hoàng đế Trần Thái Tông ban chỉ mở rộng Quốc Tử Giám thu nhận con dân thường có học lực xuất sắc về học.
Đời vua Trần Minh Tông trị vì, vua vời Chu Văn An làm quan Quốc Tử Giám Tư nghiệp, Chu Văn An kèm cặp dạy bảo Thái tử và các hoàng tử. Năm 1370 thầy Chu Văn An qui tiên, vua Trần Nghệ Tông cho thờ thầy ở Văn Miếu bên cạnh đức Khổng Tử.
Năm 1484, minh quân Lê Thánh Tông cho dựng 15 bia Tiến sĩ đầu tiên của những người đỗ Tiến sĩ từ khoa thi năm 1442 đến 1779.
Vua Gia Long nhà Nguyễn truyền bãi bỏ Quốc Tử Giám ở Hà Nội, đổi tên thành nhà Thái Học để thờ cha mẹ Khổng Phu Tử, xây thêm Khuê Văn Các ở trước Văn Miếu.
Năm 1999, TP-Hà Nội quyết định xây dựng lại nhà Thái Học có diện tích 1.530 m2 trên nền đất cũ của Quốc Tử Giám, trong khuôn viên Văn miếu – Quốc Tử Giám.

Kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám:

Văn Miếu – Quốc Tử Giám có tổng diện tích 54.331m2, phía trước cổng là bốn trụ cột lớn, hai bên tả hữu có hai bia đá “hạ mã”. Đi vào Nội tự được chia làm 5 khu vực gồm:
Khu 1 (Nhập đạo): Từ cửa Văn Miếu đến cửa Đại Trung, hai bên cửa Đại Trung có thêm hai cửa nhỏ ở hai bên là Đạt Tài môn và cửa Thành Đức môn.
Khu 2 (Thành đạo): Từ cửa Đại Trung đến Khuê Văn Các, hai bên Khuê Văn Các có hai cửa nhỏ là Súc Văn môn và Bí Văn môn
Khu 3: Có 82 bia tiến sĩ, khắc tên, nguyên quán của 1304 vị đậu Tiến sĩ với 82 khoa thi (1484-1780). Khu bia nằm đối diện hai bên Thiên Cung tỉnh là cửa Đại Thành; cửa Đại Thành có hai cửa nhỏ là Ngọc Chấn môn và Kim Thanh môn.
Khu 4 (Đại Thành Điện): Ở hai bên sân Đại Bái có dãy nhà Tả vu và Hữu vu nơi thờ tự bài vị 72 người học trò tài giỏi của Khổng Phu Tử và nhà giáo dục lỗi lạc Chu Văn An,…Những công trình kiến trúc trong Văn Miếu được đẽo, gọt bằng gỗ lim, ngói mũi hài, gạch nung được bàn tay tài hoa người thợ nước Việt xây dựng để tôn vinh nền nho học nước ta.
Khu 5: Khu Thái học là nơi thờ cúng song thân đức Khổng Tử, vốn trước kia Thái Học là trường Quốc Tử Giám thời Lý-Trần-Lê sau đó vua nhà Nguyễn dời Quốc Tử Giám vào kinh đô Phú Xuân.

Địa chỉ: 58 Quốc Tử Giám, quận Đống Đa, TP-Hà Nội
Điện thoại: 0437472566
Website: Vanmieu.gov.vn

* Chùa Một Cột

Tên thường gọi Chùa Một Cột, nhưng tên gọi chính xác là Liên Hoa Đài nằm trong khuôn viên chùa Diên Hựu.
Hoàng đế Lý Thái Tông chiêm bao thấy Quan Âm Bồ Tát ngự trên đài sen, Ngài đưa tay dắt vua lên đài sen. Sau khi tỉnh giấc mộng vua cho truyền quần thần, thuật lại câu chuyện, nhà sư Thiền Tuệ đã tâu với vua nên dựng cột đá giữa hồ làm đài sen của Quan Thế Âm như trong giấc mơ và đặt tên là Liên Hoa Đài .
Chùa Một Cột trải qua nhiều lần trùng tu trong các triều đại, Chùa Một Cột hiện nay được chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa xây dựng lại năm 1955 sau khi bị thực dân cài thuốc nổ đánh sập năm 1954. Chùa được thiết kế bằng gỗ, lợp mái ngói, chùa được dựng trên một chân trụ đá; trụ đá cao 4m (chỉ tính phần nổi, chưa tính phần chìm trong nước), đường kính 1,2m.

Địa chỉ: Đội Cấn, quận Ba Đình, TP-Hà Nội
Điện thoại: 096.808.6529

Video: Hoàng Thành Thăng Long-Hà Nội

Khám Phá Di Tích Phố Hiến –Hưng Yên

Từng là thương cảng phồn thịnh nhất Đàng Ngoài thế kỷ 16-17, Phố Hiến (TP-Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên) là nơi giao hòa của nhiều nền văn hóa như Việt Nam, Trung Hoa, Tây Ban Nha, Hà Lan,..Năm 2014 Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định công nhận Khu di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến, bao gồm 17 di tích tiêu biểu hợp thành: Đền Hoa Dương Linh Từ (đền Mẫu), đình- chùa Hiến, đền Nam Hòa, đền Thiên Hậu, đền Mây, đình An Vũ, đền Quan Thánh Đế Quân (Võ Miếu), đền Cửu Thiên Nương Nương (Cửu Thiên Huyền Nữ), Văn miếu Hưng Yên (Văn Miếu Xích Đằng), chùa Chuông (Kim Chung Tự), đền Ủng, Đông Đô Quảng Hội, chùa Phố, Đền Trần Hưng Đạo, đền Kim Đằng, chùa Nễ Châu, đền Bà Chúa Kho.

Tọa lạc bên hồ Bán Nguyệt, đền Mẫu là công trình tâm linh mang đậm kiến trúc Trung Hoa, đền thờ bà Dương Quý Phi (nhà Tống-Trung Hoa) là người đã tuẫn tiết giữ lòng trung với vua khi bị quân Mông Cổ truy sát. Nhiều dòng họ người Hoa di cư sang Đại Việt khi triều Minh sụp đổ xây dựng đền Mẫu để thờ phụng, cầu bình an. Che chắn cho ngôi đền là ba cây cổ thụ Sanh, Đa, Si có tuổi đời hơn 800 năm càng làm cho không gian đền Mẫu thêm linh thiêng, huyền ảo.

Đền Trần Hưng Đạo, là nơi thờ tự vị anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn, Ngài là nhà quân sự, nhà văn, nhà chính trị lỗi lạc của Đại Việt, Ngài có công đánh đuổi giặc Nguyên Mông lần 1, 2, 3.

Văn miếu Hưng Yên, được xây dựng từ thời Hậu Lê, văn miếu là biểu tượng tôn vinh truyền thống hiếu học, ước mơ khoa bảng của lớp nho sĩ, nơi hội tụ tinh hoa, trí tuệ, tinh thần tôn sư trọng đạo của người Hưng Yên. Hiện nay, Văn miếu còn giữ được 9 tấm bia đá khắc ghi 161 vị đỗ đại khoa của trấn Sơn Nam xưa, bia đá điêu khắc hình long, lân chầu nguyệt rất tinh xảo.

Đền Mây thờ tướng quân Phạm Bạch Hổ, ông là vị tướng anh dũng đã từng theo Ngô Vương đánh quân Nam Hán trên Bạch Đằng giang, sau đó ông đầu quân Đinh Bộ Lĩnh thống nhất loạn 12 sứ quân. Đền được xây từ thờ Đinh-Tiền Lê và được tu bổ lại vào thời nhà Nguyễn. Ngôi đền này còn chứa đựng nhiều câu chuyện truyền miệng linh thiêng, là minh chứng cho lòng tin của người dân về sức mạnh vị thần bảo hộ họ.

Chùa Chuông (Kim Chung Tự) được xây dựng ở thế kỷ 15, trải qua cuộc trùng tu qui mô lớn năm 1707, dễ dàng nhận thấy hoa văn, kiến trúc thời Hậu Lê hiện rõ như cổng tam quan, tiền đường, thiên hương, thiên điện, cây cầu đá bắt qua ao mắt rồng –trồng nhiều hoa súng, bên hành lang có dãy tượng 18 vị La Hán, tượng thập điện Diêm Vương, nhà thờ tổ có nhiều tượng Quan Âm Bồ Tát bằng đá, cuối hành lang có chuông đồng, khánh đá,…Bước vào ngôi cổ tự có cảm giác như thời gian lắng đọng, tâm hồn thư thái lạ kỳ.

Đền Bà Chúa Kho, thờ Bà Lê Bạch Nương, một người phụ nữ trung quân ái quốc, tiết tháo hơn người. Bà được triều đình Hậu Lê giao trông coi kho lương, ngân khố đồn Vĩnh Ty, bà chiến đấu cùng đội quân bảo vệ kho, quyết không để kho rơi vào tay giặc, bà hy sinh trong trận chiến không cân sức này. Đền thiết kế theo lối chữ nhị có ba gian tế, ba gian hậu cung. Ngôi đền còn giữ được hai đạo sắc phong niên hiệu Khải Định (vua triều Nguyễn), tượng đồng, lục bình sứ, tượng gỗ,…

Đền Cửu Thiên Nương Nương (Cửu Thiên Huyền Nữ), đền được người Hoa ở Phố Hiến xây dựng, đền là nơi thờ tự Đức Cửu Thiên Huyền Nữ Chân Quân, người thường ra tay giúp đỡ nhân dân lúc hoạn nạn, hiểm nguy nên được tôn làm thánh. Đền có kiến trúc chữ Công có ba gian tiền tế, một gian ống muống, 3 gian hậu cung. Đền vẫn được du khách thập phương, người dân địa phương nhang khói mỗi ngày, cầu mong sự che chở cứu giúp của Cửu Thiên Nương Nương.

Cụm di tích đình – chùa Hiến, là điểm đến tâm linh lý thú du khách khi đến Phố Hiến, trước sân ngôi cổ tự có hai bia đá dựng năm 1625 và bia còn lại dựng năm 1709, trên bia khắc quá trình cư ngụ, hình thành Phố Hiến xưa. Trong khuôn viên chùa có cây nhãn Tổ, tuổi đời hơn 300, đây là cây nhãn đường phèn, quả to, ngọt thanh, cùi dày, nhãn này ngày xưa chỉ để tiến vua.

Đến Phố Hiến khám phá mảnh đất đô hội một thời, nơi mang trong mình những câu chuyện kỳ thú từ quá khứ. Phố Hiến có không khí trong lành, người dân mến khách, giá cả phải chăng và cùng thưởng thức món ăn dân dã như chè long nhãn, bún thang lươn, chè hạt sen, bún riêu cua,… Là trải nghiệm không thể quên cho những ai từng một lần đặt chân đến nơi này.

Video: Giá trị lịch sử – văn hóa quần thể di tích Phố Hiến

Chùa Thiêng Tích Sơn –Vĩnh Phúc

Chùa Tích Sơn được xây dựng từ cuối đời Lý đầu đời Trần, đã có lịch sử hàng nghìn năm, chùa tọa lạc trên đỉnh đồi vốn là vùng đất thiêng thuộc phường Ngô Quyền, TP Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Tên tự của chùa vốn là “Ngũ Phúc Tự” nghĩa là ngôi chùa mang đến Phúc lành cho 5 ngôi làng cổ ở Tích Sơn. Chùa đã được công nhận là di tích Lịch Sử Quốc Gia vào năm 1992.

Chùa Tích Sơn cũ từng được trùng tu một lần vào đời Hậu Lê, đổi tên thành “Sơn Tuyền Tự” hiện tên vẫn còn khắc trên cây Hương Đá đặt trước chính điện. Đến đời nhà Nguyễn lại lấy tên cũ là “Ngũ Phúc Tự”.

Theo những ghi chép trong sử sách, năm 1890, thực dân Pháp đến chiếm đất chùa cũ để xây dựng dinh chánh sứ cai quản tỉnh Vĩnh Yên mới thành lập (nay là tỉnh lỵ tỉnh Vĩnh Phúc). Chùa phải di dời về vị trí hiện tại vẫn thuộc thành phố Vĩnh Yên nhưng cách vị trí cũ hơn 1 Km.

Theo lời của các cụ cao tuổi, quan Chánh sứ người Pháp sau khi phá chùa Tích Sơn cũ xây dinh Chánh sứ mấy năm thì trở bệnh nặng, không lâu sau đó thì chết. Những quan Chánh sứ thực dân Pháp tiếp theo đến cai trị ở đây đều không sống được lâu, thường bị chết bất đắc kỳ tử. Người dân trong vùng khi đó tương truyền rằng, do quan Chánh sứ phá chùa thiêng xây dinh thự bị trời phật trừng phạt.

Về ngôi chùa thiêng sau khi di dời, được chuyển đến địa điểm mới nằm trên một khu đất cao ráo, bằng phẳng có địa thế rất đẹp nằm ở khu trung tâm thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc. Ban đầu chùa được xây dựng quy mô rất lớn, các kiến trúc gồm có tam quan, gác chuông, 7 gian tiền đường, 3 gian hậu cung, theo lối kiến trúc “nội công ngoại quốc”.

Thời kháng chiến chống Pháp, chùa Tích Sơn đã từng được sử dụng cho nhiều mục đích như làm cơ sở bí mật, trường học, nhà trẻ mẫu giáo v.v. Đến nay trên đất chùa vẫn còn sót lại một số công trình như nhà trẻ, trường mẫu giáo hay hợp tác xã nông nghiệp.

Thượng tọa Thích Giác Minh cho biết: năm 2010 lãnh đạo tỉnh đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhà chùa, mở rộng diện tích chùa lên đến 9.000 m2 tương đương diện tích chùa cũ trước đây. Thời gian qua, được sự cho phép của lãnh đạo tỉnh Vĩnh Phúc, chùa đã huy động được hơn 42 tỷ đồng dùng cho trùng tu, tôn tạo cảnh quan chùa. Hiện xung quanh khuôn viên chùa đều được xây tường rào kín đáo, giữa khoảng sân rộng trước chánh điện là nơi đặt cây Hương Đá (cổ vật có từ thời Hậu Lê). Nơi thờ phụng chính của chùa là chánh điện, phía trước có treo bức hoành phi “Ngũ Phúc Tự”.

Chùa Tích Sơn có quy mô khá đồ sồ với nhiều kiến trúc liên tiếp tạo nên một cảm giác bề thế mà vẫn giữ được sự nghiêm trang. Chánh điện có kiến trúc hình chữ đinh, với hệ thống trụ gỗ và gạch xây. Mái của chánh điện được nối liền bằng nhiều loại gỗ quý, tạo cảm giác vững chãi. Tại hệ thống thờ trong chánh điện vẫn còn lưu giữ được 16 bức tượng bằng gỗ và đồng được xếp thành nhiều tầng cao dần về phía trong, tượng trưng cho từng bước lên cõi Niết Bàn của Phật. Ngoài ra chùa còn lưu giữ được một một chuông đồng được đúc năm Minh Mạng thứ 12 cùng một khánh đồng cổ, đây là những cổ vật quý có nhiều giá trị lịch sử.

Ngoài ra, chùa Tích Sơn còn có đóng góp không nhỏ trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm với vai trò cơ sở ngầm, nơi nuôi giấu cán bộ, cất giấu vũ khí. Có thể nói, Chùa Tích Sơn không chỉ đơn giản là 1 nhà thờ tôn giáo mà còn là một di tích lịch sử cách mạng ghi dấu một thời kỳ kháng chiến hào hùng của nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

Hiện nay, chùa Tích Sơn đã được lãnh đạo tỉnh Vĩnh Phúc cấp phép lập dự án quy hoạch tổng thể tạo điều kiện trùng tu, tôn tạo di tích, bảo tồn cổ vật, đảm bảo nơi học tập của các tăng ni, phật tử và nơi người dân hành hương.

Video: Lễ Chiêm Bái Tượng Phật Ngọc Tại Chùa Tích Sơn

Thủ Tướng Chỉ Đạo Bắc Ninh Phải Chú Trọng Phát Triển Công Nghệ Cao

Thủ tướng Chính phủ đã có buổi làm việc với các cán bộ chủ chốt của tỉnh Bắc Ninh.

Phát biểu tại buổi làm việc, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đánh giá cao những thành tựu to lớn, trọng yếu của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân và quân đội trong hai thập kỷ qua.

Người đứng đầu Chính phủ yêu cầu tỉnh phối hợp với các địa phương khác trên cả nước thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước năm 2017.

Thủ tướng mong muốn Bắc Ninh phấn đấu trở thành một trong những thành phố giàu nhất của cả nước và dẫn đầu sự phát triển của Việt Nam về điện tử và công nghệ cao.

Ông cũng bày tỏ hy vọng rằng Bắc Ninh sẽ phát triển nhanh chóng và bền vững và sớm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.

Bắc Ninh nên phấn đấu trở thành một thành phố có sự sáng tạo cao, Thủ tướng nói. Bên cạnh tăng trưởng nhanh và bền vững, Bắc Ninh cần giữ gìn những giá trị văn hoá độc đáo, ông nhấn mạnh.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho rằng, cùng với điện tử và công nghệ cao, Bắc Ninh nên tập trung phát triển nông nghiệp hữu cơ và các dịch vụ tiêu chuẩn quốc tế.

Cùng với việc tăng cường sử dụng công nghệ trong quản lý Nhà nước, tỉnh cần tập trung bảo tồn các giá trị lịch sử, văn hoá truyền thống và bảo vệ môi trường trong quá trình hội nhập và phát triển.

Ông cũng cho biết thêm rằng cần tăng cường xây dựng Đảng, quản lý chính quyền địa phương và thúc đẩy vai trò của Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các tổ chức xã hội.

Trước đây gọi là vùng Kinh Bắc, tỉnh được đặt tên là Bắc Ninh vào năm 1831 dưới triều Nguyễn. Sau đó nó được sát nhập với tỉnh Bắc Giang để hình thành tỉnh Hà Bắc. Ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc hội khoá X đã phê duyệt việc thành lập lại Bắc Ninh và Bắc Giang. Ngày 1 tháng 1 năm 1997, Bắc Ninh chính thức hoạt động như một đơn vị hành chính mới.

Bắc Ninh có nhiều văn hoá và truyền thống cách mạng. Đây là nơi có nhiều người nổi tiếng cũng như các lễ hội, làng nghề truyền thống và nghệ thuật dân gian, đặc biệt là làn điệu dân ca “Quan Họ” được UNESCO công nhận là một trong những di sản văn hoá phi vật thể thế giới.

Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ nhất lên Tổ chức Đảng, Chính phủ và nhân dân tỉnh Bắc Ninh để ghi nhận những đóng góp của mình cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Cùng ngày, Thủ tướng Chính phủ cũng đã đến thăm Dự án mở rộng Khu phức hợp Samsung tại Khu công nghiệp Yên Phong.

Video: Thủ tướng chính phủ thăm và làm việc tại Bắc Ninh

Vĩnh Phúc- Lực Lượng Lao Động Trẻ Dồi Dào Nhưng Còn Thiếu Kỹ Năng

Hiện nay ở địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đang có nhiều doanh nghiệp phải tuyển dụng lao động một cách thường xuyên để bắt kịp tiến độ phát triển sản xuất. Tuy nhiên, trên thực tế không nhiều doanh nghiệp tuyển dụng được đủ số lượng lao động cần thiết. Lý do là dù lực lượng lao động trẻ rất đông đảo nhưng chưa đủ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm để thỏa mãn các yêu cầu cơ bản của đa số doanh nghiệp.

Theo số liệu thống kê, hiện nay số người trong độ tuổi lao động trên địa bàn tỉnh là hơn 645 nghìn người. Bình quân mỗi năm số người đủ độ tuổi lao động vào  khoảng 14 nghìn người. Tính cả số người kết thúc nghĩa vụ quân sự, học sinh sinh viên mới tốt nghiệp, và số lao động thất nghiệp thì hàng năm tỉnh Vĩnh Phúc cần giải quyết việc làm cho khoảng hơn 20 nghìn lao động.

Tại phiên giao dịch việc làm của tỉnh không thiếu sự tham gia của người lao động có tay nghề và lao động đạt trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên. Dù vậy, những hồ sơ đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng lại không đạt được số lượng như mong đợi dù rất nhiều doanh nghiệp có nhu cầu đối với lao động trình độ cao.

Theo chia sẻ của nhiều doanh nghiệp, dù nắm trong tay tấm bằng đại học loại khá, giỏi, người lao lại thiếu nhiều kỹ năng cần thiết khác mà công việc của họ cần có. Ông Trần Huy Văn, đại diện nhà tuyển dụng công ty Cổ phần Hưng Hà chia sẻ: “Lao động trẻ, đặc biệt là sinh viên vừa tốt nghiệp, thường thiếu kinh nghiệm thực tế nên họ gặp rất nhiều khó khăn khi bắt đầu công việc, điều này gây tồn thất khá nhiều về thời gian và chi phí cho doanh nghiệp khi phải cử nhân viên có nhiều kinh nghiệm kèm cặp, chỉ bảo”.

Do đòi hỏi của công việc, Công ty cổ phần TTC có trụ sở tại Khu công nghiệp Phúc Yên, có nhu cầu cao đối với lao động có tay nghề. Tuy nhiên, theo chia sẻ của cán bộ phòng nhân sự của công ty: “Hầu hết lao động được mới vào làm tại công ty đều phải trải qua quá trình đào tạo lại bằng hình thức vừa học, vừa làm. Bởi mặc dù người đã qua quá trình đào tạo ở các trường dạy nghề, đã đạt được trình độ từ cấp, trung cấp thậm chí cao đẳng, nhưng kiến thức lý thuyết, thậm chí thực hành trong giảng đường và trong công việc thực tế tại doanh nghiệp gần như không có điểm chung.”

Nhiều nhà tuyển dụng cũng chia sẻ thêm: Kể cả những lao động giàu kinh nghiệm, có kiến thức chuyên môn vững chắc, cũng gặp nhiều khó khăn do không có kỹ năng ứng xử, hoặc rất kém về ngoại ngữ.

Thông thường, lao động trẻ khi mới vào doanh nghiệp đều phải bắt đầu từ những vị trí thấp, sau khi chứng minh được năng lực, góp phần cho sự phát triển của doanh nghiệp và thì mới có thể thăng tiến. Tuy nhiên, trên thực tế có một số sinh viên quá tự tin vào bằng cấp của mình mà không quan tâm đến điều này, họ sẵn sàng “nhảy việc” khi không được vào vị trí mong muốn.

Bên cạnh những hạn chế về mặt kiến thức, kinh nghiệm, một trong điều khiến các doanh nghiệp “e dè” khi tuyển dụng là lao động trẻ là tác phong, ý thức trong quá trình làm việc. Rất nhiều doanh nghiệp sau khi tuyển dụng đối tượng lao động phổ thông thường hay gặp phải những vấn đề khá “buồn cười” như: Lao động tự ý nghỉ việc vì lý do “ bận việc nhà”, hoặc chuyển sang làm ở công ty khác cùng bạn bè “cho vui”; không tuân thủ các quy định về giờ giấc; an toàn lao động, an toàn phòng chống cháy nổ; tự ý di chuyển vị trí làm việc… Những sự việc trên xảy ra một phần là do ý thức của lao động phổ thông còn chưa cao, tư tưởng còn lạc hậu theo lối nhà nông, chưa có tác phong công nghiệp khi làm việc trong các doanh nghiệp ở khu công nghiệp.

Bên cạnh những điểm mạnh như sự năng động, sáng tạo, nhiệt tình thì những lao động trẻ của tỉnh Vĩnh Phúc vẫn còn tồn tại những còn những khuyết điểm riêng do cả yếu tố khách quan và chủ quan mang lại. Vì vậy, bên cạnh nhiệm vụ của các cấp, các ngành trong công tác đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, bản thân người lao động trẻ phải chủ động trong việc học tập, rèn luyện để đáp ứng được nhu cầu của thời kỳ hội nhập quốc tế.

 

Vĩnh Phúc: Họp Đánh Giá Tình Trạng Lao Động Và Tìm Giải Pháp

Mới đây, Ban Chỉ đạo Giải quyết việc làm tỉnh Vĩnh Phúc đã tổ chức cuộc họp để đánh giá tình hình giải quyết việc làm cho người lao động trong 5 tháng đầu năm và đề xuất biện pháp tăng cường xuất khẩu lao động (XKLĐ) và giải quyết việc làm trong 7 tháng cuối năm 2017. Chủ trì cuộc họp là Đồng chí Vũ Việt Văn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Giải quyết việc làm tỉnh.

Theo báo cáo, 5 tháng đầu năm 2017, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho hơn 10 nghìn lao động, đạt 44,4% kế hoạch năm. Trong đó, giải quyết việc làm trong nước cho 9.500 lao động, xuất khẩu có thời hạn 640 lao động đi nước ngoài. Tính đến tháng 5/2017, Trung tâm Đào tạo lao động xuất khẩu tỉnh đã chi trả trên 3 tỷ đồng hỗ trợ xuất khẩu lao động cho hơn 300 hồ sơ. Toàn tỉnh có trên 1000 gia đình và người lao động được vay vốn với tổng số tiền trên 45 tỷ đồng; 79 hộ vay vốn XKLĐ với tổng số tiền hơn 5 tỷ đồng. Theo đánh giá, dù công tác hỗ trợ xuất khẩu lao động được triển khai tương đối đồng bộ nhưng số lao động xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài còn khá ít, chỉ đạt khoảng 32% so với chỉ tiêu giao cho các đơn vị trong năm 2017, các huyện đạt tỷ lệ thấp nhất là: Bình Xuyên, Lập Thạch, Yên Lạc.

Trong 7 tháng cuối năm, Ban Chỉ đạo Giải quyết việc làm tỉnh tăng cường thúc đẩy công tác tuyên truyền và triển khai Nghị quyết 207 và các quyết định khác đến người dân tạo điều kiện  giải quyết việc làm hiệu quả cho người lao động; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các kế hoạch, chỉ tiêu đề ra, kịp thời phát hiện những vướng mắc, từ đó mau chóng tìm ra giải pháp hiệu quả; tiếp tục có giải pháp để người lao động có nhu cầu đi XKLĐ tiếp cận được nguồn vốn từ chính sách của tỉnh; tăng cường tuyên truyền công tác phân luồng học sinh nhằm tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức của cả học sinh và phụ huynh về định hướng nghề nghiệp…

Cuối buổi họp, Đồng chí Vũ Việt Văn yêu cầu các thành viên Ban chỉ đạo các cấp tập trung rà soát đánh giá thực trạng nguồn lao động, đề xuất các giải pháp tháo gỡ những khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp người lao động có việc làm. Sở LĐTB&XH phải thường xuyên có thông báo định kỳ, kịp thời tình hình nhu cầu lao động để có giải pháp tuyên truyền, định hướng cụ thể, sát thực; phối hợp Sở GD&ĐT, các huyện trong cách thức định hướng giáo dục nghề nghiệp tại các trường học; phối hợp với Ngân hàng CSXH rà soát các thủ tục cho vay XKLĐ. Sở LĐTBXH và các địa phương cần làm việc với các doanh nghiệp có dịch vụ XKLĐ giáo dục nâng cao ý thức người lao động, đảm bảo người lao động chấp hành quy chế, kỷ luật lao động, tôn trọng pháp luật ở các nước sở tại; các cơ quan truyền thông tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền thông qua các thành quả của người đã đi XKLĐ để tạo niềm tin, động lực cho người lao động, góp phần thực hiện kế hoạch giải quyết việc làm và đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo đúng chỉ tiêu đề ra.

 

Hải Dương Ứng Dụng Công Nghệ Thông Tin Để Phục Vụ Quản Lý Cơ Sở Hạ Tầng Giao Thông Vận Tải Trên Địa Bàn Tỉnh

Tỉnh Hải Dương có mạng lưới giao thông vận tải tương đối hoàn chỉnh, với gần13.000 km đường bộ, gần 400 km đường sông, là điều kiện thuận lợi để tỉnh phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, công tác quản trị cơ sở dữ liệu hạ tầng giao thông chưa chặt chẽ, ở nhiều bộ phận việc lưu trữ vẫn được thực hiên thủ công một cách rời rạc đồng thời thiếu quan tâm đến việc cập nhật, do vậy đã gây nhiều khó khăn khi cần tra cứu dữ liệu phục vụ việc quản lý, quy hoạch, bảo dưỡng. Hiện tại, công tác quản trị cơ sở dữ liệu hạ tầng giao thông yêu cầu việc lưu trữ phải chính xác, dữ liệu phải được cập nhật thường xuyên, thông tin phải công khai minh bạch để thuận tiện cho tra cứu, truy xuất thông tin, thu hút đầu tư, phục vụ quy hoạch, phát triển hạ tầng giao thông. Do đó, Sở GTVT đã đề xuất với UBND tỉnh Hải Dương xét duyệt nghiên cứu đề tài: ” Xây dựng phần mềm cơ sở dữ liệu phục vụ quản lý hạ tầng giao thông vận tải trên địa bàn tỉnh Hải Dương”. Chủ nhiệm Đề tài là Thạc sĩ Lê Đình Long, giám đốc Sở GTVT tỉnh Hải Dương, thực hiện trong năm 2016.

Ban chủ nhiệm đề tài đã cùng với các phòng ban có liên quan tiến hành thống kê, rà soát toàn bộ hồ sơ của Sở GTVT và các cơ quan quản lý; khảo sát thực địa tất cả các tuyến đường, xác định vị trí bằng GPS, tiến hành đo đạc, lấy thông số kỹ thuật của hạng mục công trình, xây dựng bản đồ kỹ thuật số của các cơ sở hạ tầng từ các vị trí đã được xác định. Bản đồ số sẽ bao gồm dữ liệu về các tuyến  đường bộ, đường sắt, vận tải xe buýt, đường thủy nội địa. Ngoài ra còn có số liệu về các dự án xây dựng công trình giao thông cơ bản, dự án sửa chữa định kỳ từ năm 2013 đến nay. Các dữ liệu này sau đó được biên tập xây dựng thành bản đồ nền giao thông tích hợp vào hệ thống phần mềm. Các dữ liệu trên được đưa vào phần mềm tích hợp với website của Sở Giao thông vận tải. Phần mềm được lập trình dưới dạng ứng dụng web, có tổng cộng 6 module: quản lý thông tin chung; cập nhật thông tin; quản lý dữ liệu chi tiết; tra cứu, tìm kiếm dữ liệu; quản trị người dùng; trích xuất báo cáo. Phần mềm có chức năng để người dùng tra cứu tình hình cơ sở hạ tầng giao thông vận tải theo tuyến, cập nhật tài liệu theo từng bước thực hiện, đồng thời cho phép người quản trị viên trích xuất báo cáo theo từng thời điểm.

Thông qua đường truyền của sở GTVT, ban quản lý dự án đã tiến hành cập nhật thông tin về toàn bộ các tuyến đường giao thông, vị trí sơ đồ các tuyến quốc lộ, các dự án xây dựng cơ bản và các công trình sửa chữa định kỳ từ năm 2005 đến 2015, đồng thời chỉ đạo các phòng ban có cập nhật ngay khi có thay đổi và bổ sung. Hệ thống phần mềm sẽ được đặt tại máy chủ dịch vụ của Sở GTVT, cho phép kết nối tới cơ sở dữ liệu tỉnh đặt tại Sở Thông tin và Truyền thông. Dự án đã được triển khai thành công và liên tục được cập nhật thông tin để đảm bảo tính chuẩn xác kịp thời của phần mềm.

Tại hội thảo nghiệm thu đề tài, phần mềm đã có ảnh hưởng tích cực đến công tác quản lý dữ liệu hạ tầng giao thông giúp thông tin thêm chính xác đồng bộ, việc cập nhật được đầy đủ, kịp thời, minh bạch về điều kiện sử dụng khai thác hạ tầng giao thông. Đề tài triển khai hiệu quả góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm thời gian tìm kiếm thông tin, khai thác dữ liệu phục vụ quản lý.

Thành Phố Bắc Ninh Giải Quyết Việc Làm Cho Người Lao Động

Nhờ sự quan tâm của chính quyền đối với người dân, những năm qua, công tác giải quyết việc làm cho người lao động tại thành phố Bắc Ninh đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Đây là yếu tố quan trọng nâng cao đời sống của người dân, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

Bắc Ninh là địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế – xã hội. Với vị trí trung tâm chính trị, kinh tế – xã hội của tỉnh, cộng với tiềm năng đất đai sinh lợi cao, nguồn lao động dồi dào, hệ thống giao thông thuận lợi nên thành phố đã thu hút được nhiều dự án đầu tư lớn, đầy triển vọng. Đây là những yếu tố quan trọng để thành phố vươn lên phát triển mạnh mẽ và đạt nhiều kết quả trên nhiều lĩnh vực.

Cùng với lợi thế trên là những thách thức không nhỏ cho địa phương khi tốc độ đô thị hoá nhanh, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp mở rộng quy mô, dẫn đến diện tích sản xuất sẽ thu hẹp, nông dân thiếu việc làm. Trong khi nguồn nhân lực tại chỗ chưa đáp ứng nhu cầu.

Nhiều năm qua, giải quyết việc làm cho người lao động ở Bắc Ninh đạt được những kết quả khả quan, trung bình mỗi năm giải quyết được từ 5000 đến 5.200 lao động. Hiện nay, số người trong độ tuổi lao động khoảng 103.000 người. Trong đó, có khoảng 80-82% có việc làm thường xuyên. Đây là một con số khá ấn tượng. Bắc Ninh ngày càng có nhiều doanh nghiệp, dự án được triển khai và đi vào hoạt động đã giải quyết việc làm cho người lao động dáng kể. Hiện tại thành phố có hơn 1.247 doanh nghiệp với nhiều dự án lớn đã giải quyết việc làm cho hơn 10.000 lao động.

Thời gian tới, nhiều dự án thu hút và đi vào hoạt động như: Trường Đại học Dược Hà Nội, Đại học Thống kê, dự án Samsung Display trên 1 tỷ USD ở Khu công nghiệp Yên Phong – Bắc Ninh… hứa hẹn sẽ giải quyết cho hàng ngàn lao động.

Để đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp, thành phố tập trung đẩy mạnh đào tạo nghề bằng nhiều nguồn kinh phí để người dân có cơ hội tìm kiếm việc làm mới. Nhưng phần lớn lao động sau khi được đào tạo xong không tìm được cơ hội, không vận dụng được những kiến thức được đào tạo. Trước vấn đề này, các cơ sở dạy nghề của thành phố cần làm việc với các công ty lớn như: Samsung, Canon… để đặt vấn đề cung cấp lao động theo hình thức đào tạo lao động gắn với giải quyết việc làm.

Theo bà Trần Hồng Diễm, các cơ sở dạy nghề chủ động được nguồn ra sẽ tạo điều kiện cho thanh niên địa phương được đào tạo nghề sau khi ra trường được các doanh nghiệp nhận vào làm việc. Điểm quan trọng trong công tác giải quyết việc làm cho lao động trên địa bàn thành phố chính là phong trào xuất khẩu lao động. Hiện nay, lao động đi xuất khẩu nước ngoài của thành phố gần 700 người. Để vận động, tuyên truyền cũng như hướng dẫn cho người dân, thành phố đã phối hợp với các cơ quan chức năng và các doanh nghiệp cung ứng lao động, tổ chức các hội nghị tư vấn. Vì vậy, nhiều lao động có thông tin đầy đủ và chính thống để đi đúng hướng, phù hợp với điều kiện cũng như năng lực, trình độ tay nghề của bản thân.

Trong những năm qua, thành phố còn chú trọng đẩy mạnh phát triển các làng nghề và phát triển thêm nghề mới để nâng cao giá trị sản xuất cũng như giải quyết việc làm cho người lao động. Nhiều làng nghề nổi tiếng và ngày càng phát triển như: Làng nghề bún bánh ở Khắc Niệm, sản xuất giấy ở Phong Khê, mộc mỹ nghệ ở Khúc Xuyên. Việc phát triển các làng nghề đã giải quyết việc làm cho gần 8.000 lao động nông thôn.

Bắc Ninh tập trung giải quyết việc làm cho lao động bằng nhiều giải pháp quyết liệt và đạt được những kết quả đáng khích lệ nhằm giúp người dân nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống và góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động, phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại, khó khăn như trình độ, năng lực của người lao động chưa cao, tâm lý thụ động, chưa mạnh dạn vươn lên làm giàu, công tác đào tạo nghề còn hạn chế… là những thách thức không nhỏ cho địa phương. Để giải quyết vấn đề này, đòi hỏi thành phố cần có giải pháp đồng bộ trong việc nâng cao trình độ tay nghề cho lao động nhất là lao động nông thôn; phát triển hệ thống cơ sở dạy nghề tại chỗ, tăng cường liên kết, xã hội hóa công tác đào tạo nghề, gắn kết doanh nghiệp, các cơ sở sử dụng lao động với các cơ sở đào tạo nghề; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với từng địa phương, tăng cường thông tin, tuyên truyền giới thiệu việc làm và định hướng cho lao động để tìm được việc làm ổn định.

Tam Đảo-Vĩnh Phúc, Điểm Đến Quyến Rũ Cho Du Lịch Nghỉ Dưỡng

Mục tiêu phát triển chung của ngành du lịch của Tam Đảo là “Phấn đấu đến năm 2020 du lịch, dịch vụ phát triển, tạo được những nét đặc trưng riêng, thích hợp với tiềm năng, lợi thế trở thành trung tâm du lịch, dịch vụ của khu vực và cả nước”.

Huyện Tam Đảo nằm ở phía đông bắc tỉnh Vĩnh Phúc cách trung tâm tỉnh lỵ 10km , được thành lập đầu năm 2004, trên cơ sở chia tách từ các huyện: Bình Xuyên, Tam Dương, Lập Thạch và thị xã Vĩnh Yên cũ (nay là thành phố Vĩnh Yên). Nằm ở vị trí không xa thủ đô Hà Nội và sân bay quốc tế Nội Bài, Tam Đảo là một điểm đến hấp dẫn với du khách nội địa và quốc tế. Tam Đảo có ưu thế lớn về du lịch do với nhiều danh lam thắng cảnh như: Vườn quốc gia Tam Đảo, quần thể di tích Tây Thiên, hồ Làng Hà, hồ Xạ Hương…. tạo nên một quần thể du lịch có khả năng thu hút du khách đến với vùng đất này.

Một trong những điểm đến nổi tiếng nhất ở Tam Đảo là khu danh thắng Tây Thiên, một hệ thống di tích đồ sộ với diện tích khoảng 148ha. Khu danh thắng là một quần thể kiến trúc bao gồm đền thờ Quốc Mẫu Năng Thị Tiêu cùng vô số đền, chùa, miếu, trải dài khắp 10km trên dãy Tam Đảo hùng vĩ. Khu di tích và danh thắng Tây Thiên đã được xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt vào năm 2015. Ngoài ra, Tam Đảo còn là sở hữu 119 di tích lịch sử khác nằm rải rác khắp nơi trong địa bàn huyện.

Huyện Tam Đảo còn thiên nhiên ưu ái ban tặng nhiều danh lam thắng cảnh như rừng núi Tây Thiên, núi Trường Sinh, suối Giải Oan, hồ Xạ Hương… Trong đó Vườn Quốc gia Tam Đảo với sự đa dạng sinh học cao là nơi cư trú của nhiều loại cây, hoa quý hiếm, cùng hàng trăm loài động vật…

Khu du lịch Tam Đảo có khí hậu ôn hòa, Tam Đảo nằm trên độ cao hơn 1.000m, so với mực nước biển, nhiệt độ trung bình trong năm vào khoảng 10 – 18 độ C, là một địa điểm hấp dẫn cho du lịch nghỉ dưỡng vào ngày nghỉ cuối tuần, đặc biệt là vào mùa hè.

Những năm qua, huyện đã có những định hướng và giải pháp để thúc đẩy ngành du lịch trên cơ sở phát triển bền vững. Với mục tiêu: Khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhân văn, đồng thời bảo tồn, trùng tu, tôn tạo, gìn giữ các nguồn tài nguyên để tạo ra bước phát triển mới cho ngành du lịch. Phát triển các điểm du lịch mới, đầu tư xây dựng các điểm du lịch chất lượng cao. Đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế du lịch của huyện, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu kinh tế.

Những tháng đầu năm 2017, lượng khách du lịch đến với Tam Đảo đạt hơn 1,3 triệu lượt, doanh thu ước tính đạt trên 20 tỷ đồng tăng gần gấp đôi so với cùng kỳ năm 2016; Riêng khu danh thắng Tây Thiên  đón trên 1,25 triệu lượt khách.

Sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch đã góp phần thúc đẩy kinh tế của huyện, đem lại nguồn thu nhập lớn cho người dân, tăng thu ngân sách cho địa phương.

Định hướng phát triển du lịch của Tam Đảo trong thời gian tới rất cần có sự vào cuộc của các cơ quan, ban ngành chức năng, cùng các nhà đầu tư để Tam Đảo trở thành điểm tham quan du lịch có khả năng thu hút lượng lớn khác du lịch trong và ngoài nước. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2020, Tam Đảo có khả năng phục vụ 10 triệu lượt khách du lịch, trong đó có 100 nghìn lượt khách quốc tế và đạt tổng doanh thu trên 680 tỷ đồng/năm.

Với sự tích cực của cả hệ thống chính trị, sự đồng lòng của nhân dân trên địa bàn, huyện Tam Đảo đang tập trung mọi nguồn lực, phát huy một cách hiệu quả và hợp lý tiềm năng lợi thế, tăng tốc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng du lịch, dịch vụ làm mũi nhọn, phấn đấu đến năm 2020 Tam Đảo cơ bản thành huyện du lịch trọng điểm.

Video: FlyCam Tam Đảo Vĩnh Phúc